Phuongtritu Cửa thiền nơi bình an & nhà của phật tử 10 phương

AN CƯ KHO BÁU NIỀM TIN VÀ TRÍ TUỆ

SAT (4.6.2011)

 

 

Ngày nay, y theo lời dạy của Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, khắp nơi nơi, Chùa chiền, Tu viện, Thiền viện hằng năm đều trang trọng tổ chức chu toàn cho tứ chúng được hội tụ về tham dự mùa an cư, sau đại lễ Phật đản. Với trí tuệ của một bậc toàn giác, Đức Phật đã để lại kho báu quí giá vô tận, củng cố niềm tin vào chân lý bất biến và khai mở trí tuệ bát nhã cho hàng đệ tử trong các mùa an cư khi Ngài còn tại thế.

 

- Thế nào là an cư?

 

Tâm tĩnh lặng tự tại gọi là AN. Thân ở yên một chỗ gọi là CƯ. Tứ chúng là bốn hình tướng của người tu bao gồm xuất gia và tại gia (chư Tăng, Ni, và Cư sĩ nam, nữ). Ngày xưa, chỉ có giới xuất gia - chư Tăng và chư Ni - hành pháp an cư, mỗi năm một lần, thường là vào mùa hạ, nên gọi là an cư kết hạ, hay an cư kiết hạ. Ngày nay, ở khá nhiều nơi, vì muốn gieo duyên xuất gia thù thắng trong một thời gian hạn định, các bậc Tôn túc cho phép hàng Cư sĩ, Phật tử tại gia tham dự an cư, tập tu đời sống xuất gia, tìm hiểu học hỏi kinh Phật, nghe giảng giáo pháp, làm quen cách sống đơn giản tri túc trong thiền môn và còn có dịp tạo phước hộ trì tam bảo. Tứ chúng tùng hạ an cư đều chân thành thúc liễm thân tâm, thăng tiến giới hạnh, trưởng dưỡng từ bi, khai mở trí tuệ, cùng chung mục tiêu giác ngộ và giải thoát.

 

Mùa an cư giúp người tu tập xa rời sinh hoạt ồn ào của cảnh trần, an trụ một nơi, có thời gian nghiên tầm kinh điển, giúp cho mắt tai mũi lưỡi thân ý (gọi chung là sáu căn) được thanh tịnh. An cư chính là phương tiện thù thắng giúp thân được an, tâm được định, ý nghĩ lời nói việc làm đều thường tỉnh giác và luôn sống với tâm vô ngã vị tha, tâm từ bi tâm hỷ xả. Đó cũng là con đường tìm về “Kho Báu của Niềm Tin và Trí Tuệ”.

 

KHO BÁU CỦA NIỀM TIN

 

Đạo tràng an cư giúp người tu thanh tịnh tâm và là nơi câu hội của tứ chúng tu học, tụng kinh, niệm Phật, tham thiền, trì chú, nghe pháp, học hiểu kinh, trì giới luật, tham vấn luận, để phát sanh niềm tin chánh tín vào giáo lý Đức Bổn Sư Thích Ca; hiểu rõ được chân lý vô thường, sanh, lão, bịnh, tử, đang chi phối cuộc sống con người.

 

- Niềm tin sâu xa nơi luật nhân quả bình đẳng, con người tạo nghiệp thiện, tất nhận kết quả an vui; tạo nghiệp ác tất phải tự lãnh chịu hậu quả đau khổ. Nghiệp thiện hay nghiệp ác tạo tác từ thân khẩu ý. Dụ như hòn đá nặng (nghiệp ác, tâm nặng nề) tất nhiên phải chìm trong nước, giọt dầu nhẹ (nghiệp thiện, tâm khinh an) tất nhiên nổi trên mặt nước. Đó là nhân quả không sai, không phân biệt người nào.

 

- Niềm tin mãnh liệt nơi chính mình, nhận được bản tâm thanh tịnh vốn không sanh không diệt. Cứu cánh giải thoát sanh tử y cứ vào văn tư tu, tức là con người lắng nghe giảng chánh pháp, thực hành chánh pháp thấy có lợi lạc, tu chánh pháp dứt hết phiền não, sạch tội nghiệp, đạt đến niết bàn tịch tĩnh.

 

- Niềm tin vững chắc là căn bản của sự thành công chiến thắng tự tâm, nhiếp phục vọng tâm, là nguồn gốc của muôn hạnh lành. Niềm tin sáng suốt của người tu theo Phật không cuồng nhiệt, không sôi nổi, không so đo và không bản ngã (cái tôi).

 

- Niềm tin chân chánh là sự tự do thật sự, không bị ép buộc, cũng không vì động lực của lòng tham, sân, si sai khiến. Tu và học phải song hành, từ đó phát sinh niềm tin kiên cố, phân biệt chánh tà, đúng sai rõ ràng, không còn rơi vào mê tín hay bị dụ dẫn.

 

- Niềm tin bất thoái chuyển nơi Tam Bảo là thấy được giá trị lợi ích đối với đời sống con người trong xã hội.

 

- Thế nào là Tam Bảo?  

- Tam Bảo là ba điều quí giá, cao tột.

 

Tam Bảo bên ngoài là Phật Pháp Tăng.

Tam Bảo tự tâm là tâm sáng suốt, tâm chân chánh và tâm thanh tịnh.

Những điều Đức Phật dạy và những gì bản thân Ngài chứng đắc trong quá trình tu tập và hành đạo khổ hạnh, đã để lại cho hàng đệ tử xuất gia, tại gia, con đường đi đến Niết Bàn, là sự giải thoát hoàn toàn viên mãn.

 

- Phật: Bậc sáng suốt, giác ngộ cao tột, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, phước đức và trí tuệ lưỡng toàn. Phật là tự tâm sáng suốt của mỗi người.

- Pháp: Con đường chân chánh, phương pháp lợi ích rốt ráo đưa đến giải thoát sanh tử, là cứu cánh để trau giồi giá trị phẩm hạnh, đạo đức, thánh thiện. Pháp là tự tâm chân chánh của mỗi người.

- Tăng: Tăng già là tập thể thanh tịnh hòa hợp, đời sống đơn giản trong sạch, quên mình vì lợi ích chúng sanh, cứu người giúp đời, tu hành theo Bồ Tát hạnh. Tăng là tự tâm thanh tịnh của mỗi người.

 

Những buổi cúng dường trai tăng, trai nghi trong mùa an cư, được tổ chức rất trang nghiêm thanh tịnh, tứ chúng đồng tu tụng niệm, hồi huớng cho gia đình thí chủ và cho tất cả mọi chúng sanh trong khắp pháp giới, đời đời được gặp chánh pháp, để tiến tu cho đến ngày giác ngộ và giải thoát. Trước khi thọ thực, mọi người đều thầm niệm tam đề và ngũ quán.

 

Tam đề:

Một là nguyện không làm các điều ác,

Hai là nguyện siêng làm các việc lành,

Ba là nguyện độ tất cả chúng sanh.

 

Ngũ quán:

1. Một là nghĩ đến công sức cực khổ của thí chủ cúng dường vật thực,

2. Hai là xem xét đức hạnh có xứng đáng thọ dụng vật thực,

3. Ba là ngăn ngừa lòng tham ăn và thói quen chê khen,

4. Bốn là xem vật thực như món thuốc trị bệnh đói,

5. Năm là tạm dùng vật thực để có sức khoẻ hành đạo.

 

Tam đề và ngũ quán là phương tiện chư Tổ dạy người tu nhiếp phục tâm, trước và trong khi thọ dụng vật thực cúng dường của đàn na tín thí. Điều quan trọng là giúp hành giả trên đường hành đạo luôn tinh tấn dũng mãnh, cố gắng trau giồi đức hạnh, tăng trưởng lòng từ bi, quyết tâm đạt đến Phật quả và nguyện độ tất cả chúng sanh được viên mãn. Đó là “Kho Báu Của Niềm Tin” mà mọi người tu xuất gia hay tại gia đều mong đợi và tin tưởng.

 

KHO BÁU CỦA TRÍ TUỆ

 

“Nhân thân nan đắc. Diệu đạo nan cầu” - Thân người khó được. Chánh pháp khó gặp. Kiếp này đã được thân người, hội ngộ Phật Pháp, lại được gặp bạn đồng tu. Người biết cách tu không phí thì giờ vì những phiền não thị phi, quyết tâm tu tiến, trừ sạch các tâm ô nhiễm ganh tỵ, đố kị, tham lam, sân hận, si mê.

 

“Phản quan tự kỷ” - Xoay lại xét mình, không phê phán người, người tu sẽ thấy rõ thật tánh của bản thân. Thúc liễm thân tâm thanh tịnh, trau giồi giới, định, tuệ, đó là tìm về trí tuệ sáng suốt, tâm sáng suốt, còn gọi là Phật tánh hay Phật tâm.

 

Sinh hoạt tập thể là cơ hội tốt thực hành nếp sống tri túc, phát triển tâm vị tha khiêm tốn, đối trị tâm vị kỷ ngã mạn. Tứ chúng đồng tu theo Pháp Lục Hòa, tuy có khác nhau về xuất xứ, trong hay ngoài giáo hội, nhưng tất cả đều bất tùy phân biệt, cư xử bình đẳng, từ vật chất đến tinh thần. Thân hòa, tâm hòa, vui vẻ chấp tác, hăng hái hành đường, giúp đỡ nhau công quả từ chuyện lớn nhỏ, việc nặng nhẹ, tất cả đều hiểu biết và kính quí nhau trong tình đạo vị của chốn thiền môn an tịnh. Mục đích đưa người tu đến chân thiện mỹ.

 

Pháp Lục Hòa là sáu phương pháp cư xử hòa hợp, thanh tịnh, trong đời sống tập thể như sau:

 

1. Thân hòa đồng trú: Sống chung tập thể, hòa thuận, đùm bọc, nhường nhịn nhau trong tình thân. Không ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ thế hiếp cô. Tránh việc phe phái chia rẽ.

2. Khẩu hòa vô tranh: Sống chung tập thể, với tinh thần đồng tu, giữ gìn lời nói ôn hòa. Không tranh cãi, tranh chấp từng câu từng lời. Luận bàn trong sự tương kính và bao dung.

3. Ý hòa đồng duyệt: Sống chung tập thể, ý nghĩ thiện lành, vui vẻ trong sáng, thanh tịnh. Không cố ý tạo bất hòa, đố kỵ, ganh ghét. Đặt sự tôn trọng nhau và đồng hòa giải trên hết.

4. Giới hòa đồng tu: Sống chung tập thể, giữ gìn giới luật, tự giác giữ mình trong kỷ luật và qui tắc. Không xét việc người, tự soi mình, kính trên hòa dưới. Giúp đạo tràng trang nghiêm tề chỉnh và qui củ.

5. Kiến hòa đồng giải: Sống chung tập thể, sách tấn nhắc nhở, cùng nhau học hỏi trong sự bình đẳng. Không phân cao thấp, hay dở, khen chê, chỉ trích. Dìu dắt cùng tu, cùng lợi lạc.

6. Lợi hòa đồng quân: Sống chung tập thể, lợi dưỡng đồng chia, tài lợi vật chất đối xử công bằng. Không giành phần tốt, để người khác chịu thiệt thòi, so đo tính toán. Chia xẻ đồng đều quân bình như nhau.

 

Con người còn sống là còn động, còn sinh hoạt là còn phiền não. Pháp Lục Hòa tạo được hòa khí trong tình đạo vị, xóa tan phiền não ngăn cách. Hơn vậy nữa, pháp nầy có công dụng nhắc nhở sự bình đẳng trong tăng đoàn, dùng đức phục chúng, người tu trước biết thương yêu lo lắng người tu sau. Kỷ luật tự giác, thời khóa đúng giờ, tinh tấn khắc phục giải đãi, tăng niềm tự tin trong cuộc sống. Đó là “Kho Báu Của Trí Tuệ” ngàn năm vô cùng trân quí không bao giờ mất.

 

LỢI ÍCH CỦA AN CƯ

 

Những tháng ngày an cư, thật sự buông bỏ những lo âu phiền muộn, tứ chúng đồng tu có thêm niềm tin chánh tín và trí tuệ sáng suốt, giữ gìn truyền bá chánh pháp mạnh mẽ lợi lạc rất nhiều. Giá trị ánh sáng của Phật Pháp được duy trì, đạo Phật càng phát triển sâu rộng, niềm hạnh phúc an lạc lan tỏa khắp nhân gian không thể nghĩ bàn.

 

Trong thời gian mùa an cư, mỗi buổi sáng, tứ chúng thức dậy thật sớm, trước thời khóa tụng kinh Lăng Nghiêm có 30 phút tịnh tâm, thiền định,mọi người trong chúng từng bước nhẹ nhàng ngồi vào chỗ của mình, xếp chân với tư thế hoa sen, yên lặng thiền tọa, niệm Phật, trì chú trong yên lặng. Trong khung cảnh trang nghiêm thanh tịnh, không tạp niệm, buông bỏ phiền não, không nói chuyện, không niệm Phật ra tiếng, cũng không lễ lạy. Thời khắc đó mọi người thấy rằng, nếp sống thanh tịnh của người tu cần thiết và lợi lạc vô cùng.

 

Những thời khóa tụng kinh như nhắc lại lời Phật dạy, tiếp thu Phật Pháp. Trong lời giảng chư Tôn đức giúp mở mang trí tuệ, sinh hoạt đối xử nhau đầy đạo tình đạo vị giúp cho tứ chúng đồng tu niềm tin sâu xa nơi Tam bảo. Nhờ có những mùa an cư lợi lạc, người tu mới hiểu biết cách tu đúng chánh pháp, trang nghiêm giới hạnh và đi đúng theo con đường Phật dạy để đạt đến cứu cánh Niết Bàn. Đó là phước báu của kiếp được làm thân người lại được sống trong giới pháp của Chư Phật.

 

Tứ chúng xuất gia và tại gia thành tâm đảnh lễ, cung kính tri ân Chư Tôn Thiền Đức tổ chức những mùa an cư hằng năm, đem tâm từ bi hỷ xả cao thượng trao truyền ngọn đuốc Phật Pháp vi diệu. Các Ngài đã tạo duyên lành cho hàng Phật tử xuất gia và tại gia chúng con được học hiểu sự lợi ích thực tế của công đức và phước đức, có thể áp dụng vào cuộc sống hằng ngày nơi trụ xứ. Ngưỡng nguyện hồng ân Tam Bảo gia hộ chánh pháp trường tồn, chúng sanh dị độ.

 

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

TKN. Thích Nữ Chân Liễu (Canada, Mùa An Cư 2011)


1. Thanh tịnh Đạo tràng

Hành giả dâng hương xong, quì trước bàn Phật, đồng tụng:

TỊNH PHÁP-GIỚI CHƠN-NGÔN: Án lam. (21 lần)

TỊNH TAM-NGHIỆP CHƠN-NGÔN: Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần)

PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN:Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hộc. (3 lần)

2. Cúng dường tâm hương

Hương thơm giăng bủa

Thánh đức tỏ tường

Bồ đề tâm rộng chẳng suy lường

Tùy chỗ phóng hào quang

Lành tốt phi thường

Dâng cúng Pháp Trung Vương.

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ tát. (3 lần)

3. Tán dương Bồ tát Quán Âm

Kính lạy đời quá khứ

Chánh Pháp Minh Như Lai

Chính là đời hiện nay

Quán Thế Âm Bồ tát

Bậc thành công đức diệu

Dũ lòng đại từ bi

Nơi trong một thân tâm

Hiện ra ngàn tay mắt

Soi thấy khắp pháp giới

Hộ trì các chúng sanh

Khiến phát lòng đạo sâu

Dạy trì chú Viên Mãn

Cho xa lìa đường ác

Được sanh trước Như Lai

Những tội nặng vô gián

Cùng bịnh ác lâm thân

Khó nỗi cứu vớt được

Cũng đều khiến tiêu trừ

Các tam muội, biện tài

Sự mong cầu hiện tại

Đều cho được thành tựu

Quyết định chẳng nghi sai

Khiến mau được ba thừa

Và sớm lên quả Phật

Sức oai thần, công đức

Khen ngợi chẳng hay cùng

Cho nên con một lòng

Qui mạng và đảnh lễ.

4. Đảnh lễ

1. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Thế tôn (1 lạy)

2. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Thế tôn (1 lạy)

3. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Quá khứ vô lượng ức kiếp Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Thế tôn (1 lạy)

4. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Quá khứ cửu thập cửu ức hằng hà sa chư Phật Thế tôn (1 lạy)

5. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Quá khứ vô lượng kiếp Chánh Pháp Minh Thế tôn (1 lạy)

6. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Thập phương nhứt thiết chư Phật Thế tôn (1 lạy)

7. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Hiền kiếp thiên Phật, tam thế nhứt thiết chư Phật Thế tôn (1 lạy)

8. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm đại đà la ni thần diệu chương cú (3 lần)

9. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Quán Âm sở thuyết chư đà la ni, cập thập phương tam thế nhứt thiết tôn Pháp (1 lạy)

10. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Thiên thủ Thiên Nhãn Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ tát ma ha tát (3 lần)

11. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát ma ha tát (1 lạy)

12. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Tổng Trì Vương Bồ tát ma ha tát (1 lạy)

13. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Nhựt Quang Bồ tát, Nguyệt Quang Bồ tát ma ha tát (1 lạy)

14. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Bảo Vương Bồ tát, Dược Vương Bồ tát, Dược Thượng Bồ tát ma ha tát (1 lạy)

15. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Hoa Nghiêm Bồ tát, Đại Trang Nghiêm Bồ tát, Bảo Tạng Bồ tát ma ha tát (1 lạy)

16. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Đức Tạng Bồ tát, Kim Cang Tạng Bồ tát, Hư Không Tạng Bồ tát ma ha tát (1 lạy)

17. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Di Lặc Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát ma ha tát (1 lạy)

18. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Thập phương tham thế nhứt thế Bồ tát ma ha tát (1 lạy)

19. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Ma ha Ca Diếp tôn giả, vô lượng vô số đại Thanh văn Tăng (1 lạy)

20. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam mô Xiển Thiên Thai giáo quán Tứ Minh tôn giả, Pháp Trí đại sư (1 lạy)

21. Nhứt tâm đại vị Thiện Tra phạm ma, Cù Bà Dà thiên tử, Hộ Thế tứ vương, Thiên Long bát bộ, Đồng Mục thiên nữ, Hư Không thần, Giảng Hải thần, Tuyền Nguyên thần, Hà Chiểu thần, Dược Thảo Thọ Lâm thần, Xá Trạch thần, Thủy thần, Hỏa thần, Phong thần, Thổ thần, Sơn thần, Địa thần, Cung Điện thần, tinh thủ hộ trì chú nhứt thiết thiên, long, quỉ, thần, cập các quyến thuộc, đảnh lễ Tam bảo. (1 lạy)

5. Hành giả Phát Nguyện

Kinh dạy: “Nếu có vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di hay đồng nam đồng nữ nào muốn tụng trì chú này, trước tiên phải phát tâm từ bi đối với chúng sanh và sau đây y theo tôi mà phát nguyện:

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau biết tất cả pháp.”

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm được mắt trí huệ.”

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau độ các chúng sanh.”

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm được phương tiện khéo.”

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau lên thuyền Bát nhã.”

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm được qua biển khổ.”

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau được đạo giới định.”

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm lên non Niết bàn.”

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau về nhà vô vi.”

“Nam mô đại bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.

“Nếu con hướng về nơi non đao,

Non đao tức thời liền sụp đổ.”

“Nếu con hướng về lửa, nước sôi,

Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.”

“Nếu con hướng về Địa ngục,

Địa ngục liền tự mau tiêu tan.”

“Nếu con hướng về loài Ngạ quỉ,

Ngạ quỉ liền được tự no đủ.”

“Nếu con hướng về chúng Tu la,

Tu la tâm ác tự điều phục.”

“Nếu con hướng về các Súc sanh,

Súc sanh tự được trí huệ lớn.”

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. (10 lần)

Nam mô A Di Đà Phật. (10 lần)

6. Công năng thần diệu của chú Viên Mãn Đại Bi

Quán Thế Âm Bồ tát lại bạch Phật rằng:

“Bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh nào tụng trì thần chú Đại Bi, mà còn bị đọa vào ba đường ác, con thề không thành chánh giác.”

“Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không sanh về các cõi Phật, con thề không thành chánh giác.”

“Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng tam muội biện tài, con thề không thành chánh giác.”

“Tụng trì thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không được vừa ý, thì chú này không được gọi là Đại Bi tâm đà la ni.”

7. Bồ Tát thuyết chú

Khi đức Quán Thế Âm nói lời ấy rồi, liền ở trước chúng hội, chắp tay đứng thẳng, đối với chúng sanh khởi lòng từ bi, nở mặt mỉm cười, nói chương cú mầu nhiệm Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi tâm đà la ni rằng:

Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam-mô a rị da. Bà lô yết đế, thước bát ra da Bồ-đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tỏa. Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông. A rị da, bà lô kiết đế. Thất Phật ra lăng đà bà. Nam-mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng Tát bà tát đa Na ma bà dà Ma phạt đạt đậu Đát điệt tha Án a bà lô hê Lô ca đế Ca ra đế Di hê rị Ma ha bồ-đề tát đỏa Tát bà tát bà Ma ra ma ra Ma hê ma hê, rị đà dựng Cu lô cu lô kiết mông Độ lô độ lô, phạt xà da đếMa ha phạt xà da đế Đà ra đà ra Địa rị ni Thất Phật ra da Giá ra giá ra Mạ mạ phạt ma ra Mục đế lệ Y hê y hê Thất na thất na A ra sâm Phật ra xá-lợi Phạt sa phạt sâm Phật ra xá da Hô lô hô lô ma ra Hô lô hô lô hê rị Ta ra ta ra Tất rị tất rị Tô rô tô rô Bồ-đề dạ bồ-đề dạ Bồ-đà dạ, bồ-đà dạ Di đế rị dạ Na ra cẩn trì Địa rị sắc ni na Ba dạ ma na ta bà ha Tất đà dạ ta bà ha Ma ha tất đà dạ, ta bà ha Tất đà du nghệ Thất bàn ra dạ, ta bà ha Na ra cẩn trì ta bà ha Ma ra na ra, ta bà ha Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha Nam-mô hắt ra đát na đa ra dạ da Nam-mô a rị da Bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha

Án tất điện đô, mạn đa ra Bạt đà dạ, ta bà ha.

(tùy nguyện, mỗi lần nên tụng 3, 7, 9, 18, 21 hay 49 biến)

8. Nghe chú chứng quả

Bồ tát thuyết chú xong, cõi đất sáu phen biến động. Trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác. Mười phương chư Phật thảy đều vui mừng. Thiên ma ngoại đạo sợ dựng lông tóc.

Tất cả chúng hội đều được chứng quả.

Hoặc có vị chứng quả Tu đà hoàn.

Hoặc có vị chứng quả Tư đà hàm.

Hoặc có vị chứng quả A na hàm.

Hoặc có vị chứng quả A la hán.

Hoặc có vị chứng được Sơ địa, Nhị địa, Tam địa, Tứ địa, Ngũ địa cho đến Thập địa. Vô lượng chúng sanh phát tâm bồ đề.

 

 

9. Sám hối

 

Chí tâm sám hối:

“Đệ tử chúng con, cùng pháp giới chúng sanh, hiện tiền một tâm vẫn đủ ngàn pháp, đều có sức thần cùng với trí sáng, trên sánh chư Phật, dưới đồng muôn loài.”

“Bởi niệm vô minh, che ánh sáng kia, nên đối cảnh hôn mê, khởi lòng chấp nhiễm, trong pháp bình đẳng, sanh tưởng ngã nhơn.”

“Lại do ái kiến làm gốc, thân miệng làm duyên, trong nẻo luân hồi, gây nên đủ tội: thập ác ngũ nghịch, báng pháp, báng người, phá giới, phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của Tăng kỳ, bức người tịnh hạnh, xâm tổn thường trụ, đồ vật thức ăn. Dù ngàn Phật ra đời, khó bề sám hối.”

“Những tội như thế, không lường không ngằn, khi bỏ báo thân, phải đọa tam đồ, chịu vô lượng khổ.”

“Lại trong đời này, do túc hiện chướng, hoặc bị các nghiệp, lửa phiền thiêu đốt, tật bịnh vây quanh, duyên ngoài lôi cuốn, tà ma quấy nhiễu, làm ngăn đạo pháp, khó nỗi tiến tu.”

“May gặp thần chú VIÊN MÃN ĐẠI BI, có thể mau trừ những tội như thế, cho nên nay con hết lòng tụng trì. CON NGUYỆN NƯƠNG VỀ QUÁN ÂM BÔÀTÁT, cùng Phật mười phương, phát tâm bồ đề, tu hạnh chân ngôn, cùng với chúng sanh, tỏ bày các tội, cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu trừ.”

“Nguyện đấng đại bi Quán Âm Bồ tát, ngàn tay nâng đỡ, ngàn mắt chiếu soi, khiến cho chúng con duyên chướng trong ngoài thảy đều dứt sạch; mình, người hạnh nguyện, đều được viên thành; mở tánh bản trí, dẹp trừ ma ngoại; ba nghiệp siêng cần, tu nhân Tịnh độ.”

“Nguyện cho chúng con khi bỏ thân này không vào đường khác, quyết được sanh về thế giới Cực Lạc của Phật Di Đà. Rồi được thân cận học hỏi với đức Đại Bi Quán Âm, đủ pháp tổng trì, rộng độ chúng sanh, đồng thoát khổ luân, đều thành Phật đạo.”

 

 

 

10. Lễ tạ Tam Bảo

Đệ tử sám hối phát nguyện rồi, xin quy mạng đảnh lễ Tam Bảo:

Nhứt tâm đảnh lễ Nam mô Thập phương thường trụ Tam Bảo. (3 lạy)

11. Tâm Kinh Bát nhã ba la mật đa

Bồ tát Quán Tự Tại

khi quán chiếu thâm sâu

bát nhã ba la mật,

(tức diệu pháp trí độ),

bỗng soi thấu năm uẩn

đều không có tự tánh.

Thực chứng điều ấy xong,

Ngài vượt thoát tất cả

mọi khổ đau ách nạn.

 

Nghe đây Xá Lợi Tử:

Sắc chẳng khác gì không,

không chẳng khác gì sắc.

Sắc chính thực là không,

không chính thực là sắc.

Còn lại bốn uẩn kia

cũng đều như vậy cả.

 

Xá Lợi Tử nghe đây:

Thể mọi pháp đều không.

không sanh, cũng không diệt,

không nhơ, cũng không sạch,

không thêm, cũng không bớt.

 

Cho nên trong tánh không,

không có sắc, thọ, tưởng,

cũng không có hành, thức.

Không có nhãn, nhĩ, tỉ,

thiệt, thân, ý: sáu căn.

Không có sắc, thanh, hương,

vị, xúc, pháp: sáu trần.

Không có mười tám giới:

Từ nhãn, đến ý thức.

không hề có vô minh,

không có hết vô minh,

cho đến không lão, tử.

Không khổ, tập, diệt, đạo.

Không trí, cũng không đắc.

 

Vì không có sở đắc,

khi một vị Bồ tát

nương diệu pháp trí độ

(bát nhã ba la mật)

tâm không còn chướng ngại.

Vì tâm không chướng ngại

nên không có sợ hãi,

xa lìa mọi điên đảo,

đạt niết bàn tuyệt đối.

 

Chư Phật trong ba đời

nương diệu pháp trí độ

(bát nhã ba la mật)

nên chứng vô thượng giác.

 

Vậy nên phải biết rằng:

bát nhã ba la mật

là linh chú đại thần,

là linh chú đại minh,

là linh chú vô thượng,

là linh chú siêu tuyệt,

chân thật không hư vọng,

có năng lực tiêu trừ

tất cả mọi khổ nạn.

Cho nên tôi muốn thuyết

câu thần chú trí độ

(bát nhã ba la mật.)

 

Nói xong đức Bồ tát

liền đọc thần chú rằng:

Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. (3 lần)

12. Tán dương A Di Đà Phật

A-Di-Đà Phật thân kim sắc,

Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân,

Bạch hào uyển-chuyển ngũ Tu-di,

Cám mục trừng thanh tứ đại hải

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên,

Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh,

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới, đại-từ đại-bi, tiếp dẫn đạo-sư A-Di-Đà Phật.

Nam-mô A-Di-Đà Phật. (30 hay 108 lần)

Nam-mô Đại-bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Đại-Thế-Chí Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Thanh-Tịnh Đại-Hải chúng Bồ-tát. (3 lần)

13. Sám hối và phát nguyện

Đệ tử chúng con từ vô thỉ

Gây bao tội-ác bởi lầm mê,

Đắm trong sanh-tử đã bao lần,

Nay đến trước đài Vô-thượng giác

Biển trần khổ lâu đời luân-lạc

Với sinh linh vô số điêu tàn

Sống u hoài trong kiếp lầm than

Con lạc lõng không nhìn phương hướng

Đàn con dại, từ lâu vất vưởng

Hôm nay trông thấy đạo huy hoàng

Xin hướng về núp bóng từ quang

Lạy Phật-Tổ soi đường dẫn bước

Bao tội khổ trong đường ác trược

Vì tham, sân, si, mạn gây nên

Thì hôm nay giữ trọn lời nguyện

Xin sám hối để lòng thanh thoát

Trí Phật quang-minh như nhậït nguyệt

Từ-bi vô-lượng cứu quần-sanh

Ôi! Từ lâu ba chốn ngục hình

Giam giữ mãi con nguyền ra khỏi

Theo gót Ngài vượt qua khổ ải

Nương thuyền từ vượt bể ái hà

Nhớ lời Ngài: "Bờ giác không xa"

Hành thập thiện cho đời tươi sáng

Bỏ việc ác cho đời quang-đãng

Đem phúc lành gieo rắc phàm nhân

Lời ngọc vàng ghi mãi bên lòng

Con nguyện được sống đời rộng rãi

Con niệm Phật để lòng nhớ mãi,

Hình bóng người cứu khổ chúng-sanh

Để theo Ngài trên bước đường lành

Chúng con khổ nguyện xin cứu khổ

Chúng con khổ nguyện xin tự độ

Ngoài tham lam, sân hận ngập trời

Phá si mê trí tuệ tuyệt vời

Con nhớ Đức Di Đà Lạc quốc

Phật A-Di-Đà thân kim sắc

Tướng tốt quang-minh tự trang-nghiêm

Năm Tu-di uyển-chuyển bạch hào

Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc

Trong hào quang hóa vô-số Phật

Vô-số Bồ-tát hiện ở trong

Bốn mươi tám nguyện-độ chúng-sanh

Chín phẩm sen-vàng lên giải-thoát

Quy mạng lễ A-Di-Đà Phật

Ở phương Tây thế-giới an lành

Con nay xin phát-nguyện vãng-sanh

Cúi xin đức Từ-Bi tiếp độ

Nam-mô Tây-phương Cực-Lạc thế giới, Đại-từ, Đại-bi A-Di-Đà Phật. (3 lần)

14. Sám nguyện

Đệ tử hôm nay quỳ trước điện

Chí tâm đảnh lễ đấng Từ Tôn

Đã bao phen sanh tử dập dồn

Trôi lăn mãi trong vòng lục đạo

 

Thế Tôn đã đinh ninh di giáo

Mà con còn đắm đuối mê say

Mắt ưa xem huyễn cảnh hàng ngày

Tai thích tiếng mật đường dua nịnh

Mũi quen ngửi mùi thơm bất tịnh

Lưỡi dệt thêu lắm chuyện gay go

Thân ưa dùng gấm vóc sa sua

Ý mơ tưởng bao la vũ trụ

Bởi lục dục lòng tham không đủ

Lấp che dần trí tuệ từ lâu

Hôm nay mong giác ngộ hồi đầu

Tâm sám hối phơi bày tỏ rõ

Nguyện tội ác từ nay chừa bỏ

Chuyển sáu căn ra khỏi lầm mê

Trước đài sen thành kính hướng về

Tịnh tâm ý quy y Tam Bảo

Thêm, chỉnh sửa nội dung, hình ảnh...

Chỉnh sửa website một cách dễ dàng.

Hãy click vào biểu tượng bút chì để mở danh sách các chức năng.

Bạn có thể thêm, sửa, xóa các phần tử của trang web như các biểu mẫu, bảng, hình ảnh... Bạn cũng có thể chỉnh sửa một phần từ bằng cách click vào phần tử đó.

Bạn có thể dễ dàng thay đổi vị trí các phần tử bằng các thao tác kéo thả rất đơn giản.